Nấu bảy bữa riêng lẻ thì mệt, còn nấu một nồi nền rồi mỗi hôm biến một kiểu thì nhẹ hơn nhiều mà không thấy chán.
Bài này nói cách dựng nồi nền và cách đổi nó ra các bữa khác nhau.
Dựng nồi nền
Nồi nền phải nhạt và trung tính. Để còn biến tấu.
Nêm nhạt hơn mức muốn ăn. Thêm sau dễ hơn bớt.
Không cho rau thơm vào nồi nền. Mất mùi sau vài ngày.
Không cho nguyên liệu mau nhũn. Rau lá, nui.
Nền thường là củ và đậu. Chịu được trữ.
Đậu lăng, đậu trắng, khoai, cà rốt. Bộ nền quen.
Nấu hơi đặc hơn dự định. Pha loãng sau.
Xào rau nền kỹ ở bước đầu. Vị nền cho cả tuần.
Nồi ba tới bốn lít cho hai người ăn tuần. Ước lượng.
Để nguội nhanh bằng cách chia hộp. An toàn.
Không để nồi lớn nguội tự nhiên. Rủi ro vi khuẩn.
Chia phần ngay khi còn ấm. Rồi cho tủ.
Ghi ngày lên từng hộp. Bắt buộc.
Một nồi nền nhạt và trung tính là thứ cho phép cả tuần không lặp món, nên đừng nêm nó quá tay ngay từ đầu. Nêm nhạt nồi nền.
Biến ra các bữa khác nhau
Ngày một ăn nguyên bản với bánh mì. Nêm vừa miệng.
Ngày hai thêm nước cốt dừa và bột cà ri. Thành cà ri.
Ngày ba xay mịn thành súp kem. Thêm hạt điều xay.
Ngày bốn thêm cà chua và lá thơm. Thành súp kiểu Âu.
Ngày năm thêm nước dùng cho loãng. Thả rau lá thành canh.
Ngày sáu cô đặc lại làm nhân bánh mì. Kẹp ăn.
Ngày bảy trộn với cơm thành món khác hẳn. Đổi hoàn toàn.
Mỗi lần chỉ thêm một hai thứ. Không phải nấu lại.
Thêm nguyên liệu tươi mỗi lần. Bữa không thấy cũ.
Rau thơm tươi thay đổi cảm giác nhiều nhất. Rẻ mà hiệu quả.
Đổi phần rắc lên mặt. Hạt, hành phi, ớt.
Đổi loại bánh ăn kèm. Cũng là một cách.
Ghi lại lịch biến tấu. Tuần sau dùng lại.
Bí quyết không chán là thêm thứ tươi vào mỗi bữa chứ không phải nấu nhiều món khác nhau. Thêm đồ tươi mỗi lần.
Chia phần và trữ
Chia theo suất một người. Rã đúng lượng cần.
Hộp thuỷ tinh cho ngăn mát. Không ám mùi.
Túi zip dẹt cho ngăn đông. Đông nhanh và xếp gọn.
Ép hết không khí ra. Chống cháy lạnh.
Ghi tên và ngày lên mọi hộp. Không nhớ được đâu.
Ngăn mát giữ ba tới bốn ngày. Với súp củ đậu.
Ngăn đông giữ ba tháng. Ghi ngày.
Để chỗ trống trong hộp khi đông. Nở ra.
Không đông món có khoai tây nhiều. Rã ra bở nát.
Không đông món có bột năng. Loãng lại.
Món có nước cốt dừa thì hơi tách khi rã. Khuấy lại là được.
Rã đông trong ngăn mát qua đêm. An toàn nhất.
Dán danh sách đồ đông lên cửa tủ. Khỏi quên.
Chia phần ngay lúc nấu xong là bước tốn mười phút nhưng quyết định cả tuần có ăn được hay không. Chia ngay.
Hâm lại cho ngon
Hâm bằng lửa nhỏ và khuấy. Tránh khê đáy.
Thêm chút nước dùng nếu đặc. Đặc lại khi nguội.
Nếm lại sau khi hâm. Vị đã đổi.
Món trữ lâu thường mặn hơn. Thêm nước chứ đừng thêm muối.
Vắt chanh khi hâm xong. Làm bừng vị.
Thêm rau thơm tươi. Món như mới nấu.
Thêm chút dầu thơm. Dầu mè hoặc dầu ô liu.
Chỉ hâm phần sắp ăn. Không hâm cả hộp.
Không hâm đi hâm lại nhiều lần. Giảm chất và dễ hỏng.
Hâm bằng lò vi sóng thì khuấy giữa chừng. Nóng đều.
Đun sôi kỹ chứ không hâm ấm. An toàn.
Nướng lại bánh mì cùng lúc. Bữa như mới.
Dọn nóng ngay. Đừng để chờ.
Một chút chua và một nhúm rau thơm tươi làm món hâm lại gần như không phân biệt được với món mới nấu. Thêm hai thứ đó khi hâm.
Những món không nên trữ
Canh rau lá không trữ được. Nhũn và mất màu.
Súp có nui hoặc bún không trữ. Nở và nhũn.
Súp có bột năng loãng lại. Nấu vừa đủ.
Món có đậu hũ non thì nát khi hâm. Thả tươi mỗi lần.
Món có giá đỗ không trữ. Hỏng nhanh.
Salad trộn không trữ. Ra nước.
Đồ chiên giòn mất giòn ngay. Làm từng bữa.
Rau thơm để lâu thành đen. Thả tươi.
Nấm tươi trữ được nhưng đổi kết cấu. Chấp nhận được.
Khoai tây trong súp đông thì bở nát. Thay bằng khoai lang.
Cách đúng là trữ phần nền, thả phần tươi khi ăn. Nguyên tắc chung.
Phần tươi chỉ mất vài phút. Không đáng ngại.
Ghi rõ món nào trữ được vào sổ. Lần sau khỏi đoán.
Ranh giới đơn giản là thứ gì nhũn hoặc mất giòn thì không trữ, còn củ và đậu thì trữ thoải mái. Nhớ ranh giới đó.
Lịch bếp một tuần
Cuối tuần nấu nồi nền. Một tới hai tiếng.
Cùng lúc ninh nồi nước dùng. Tận dụng bếp.
Cùng lúc chiên sẵn đậu hũ. Ba ngày dùng dần.
Sơ chế rau cho ba ngày đầu. Rửa và để ráo.
Mua rau lá cho ba ngày sau vào giữa tuần. Tươi hơn.
Mỗi bữa chỉ mất mười phút. Hâm và thả đồ tươi.
Để một ngày ăn ngoài hoặc ăn nhẹ. Không ép kín lịch.
Để một ngày nấu bằng đồ còn lại. Dọn tủ.
Ghi lịch lên giấy dán tủ lạnh. Cả nhà nhìn thấy.
Ghi món nào ngày nào. Không phải nghĩ mỗi tối.
Chuẩn bị bánh mì theo ngày. Mua hoặc trữ đông.
Bánh mì trữ đông rồi nướng lại rất tốt. Giòn như mới.
Rà lại lịch cuối tuần. Điều chỉnh tuần sau.
Một buổi nấu cuối tuần đổi lấy sáu bữa nhẹ nhàng là thoả thuận tốt, và nó chỉ chạy được khi có lịch viết ra giấy. Viết lịch ra.
Lỗi hay gặp
Nêm nồi nền đậm ngay từ đầu. Không biến tấu được.
Cho rau thơm vào nồi nền. Mất mùi và thâm.
Cho rau lá vào nồi trữ. Nhũn.
Cho nui vào nồi nền. Nở bung.
Để nồi lớn nguội tự nhiên. Rủi ro vi khuẩn.
Không chia phần. Hâm cả nồi mỗi bữa.
Hâm cả nồi nhiều lần. Mặn và nát dần.
Không ghi ngày lên hộp. Không biết còn dùng được không.
Đông món nhiều khoai tây. Bở nát khi rã.
Đông món có bột năng. Loãng lại.
Rã đông ở nhiệt độ phòng. Không an toàn.
Ăn đúng một món cả tuần. Chán và bỏ dở.
Không thêm đồ tươi khi hâm. Bữa nào cũng như bữa nào.
Nấu nồi lớn chỉ hiệu quả khi nồi đó nhạt và khi mỗi bữa được thêm một thứ tươi, còn lại thì chỉ là ăn đi ăn lại. Nhạt và thêm tươi.