Người ta hay mua đĩa vì thấy đẹp trong cửa hàng rồi về nhà không dùng, trong khi vài món đúng cỡ lại dùng mỗi ngày.
Chọn theo việc mình hay làm thì ít món mà đủ.
Cỡ đĩa và bát
Đĩa hai mươi lăm phân là cỡ chính. Bữa một người.
Đĩa hai mươi phân cho món phụ. Và cho trẻ nhỏ.
Đĩa ba mươi phân cho món chung. Bày giữa bàn.
Đĩa rộng vành trông chỉn chu hơn. Chừa viền trống.
Đĩa nông cho món khô. Đĩa sâu cho món có nước.
Bát ăn cơm khoảng hai trăm ml. Cỡ chuẩn.
Bát tô năm trăm ml cho món nước. Bún, phở.
Bát sâu giữ nóng lâu hơn. Hợp súp.
Chén chấm năm mươi ml. Mỗi người một cái.
Chén nhỏ đựng đồ rắc. Hạt, rau thơm.
Ly hai trăm ml cho nước. Cỡ vừa tay.
Ly cao cho đồ uống đá. Riêng.
Đo tủ trước khi mua. Đĩa lớn hay không vừa.
Ba cỡ đĩa và hai cỡ bát là đủ cho gần hết bữa ăn trong nhà, còn lại là đồ cho dịp đặc biệt. Ba cỡ đĩa là đủ.
Màu và chất liệu
Trắng làm mọi món nổi màu. An toàn nhất.
Trắng cũng dễ mua bù khi vỡ. Không lo hết mẫu.
Màu trung tính cũng tốt. Be, xám, xanh nhạt.
Tránh hoa văn rối trong lòng đĩa. Món chìm.
Hoa văn ở vành thì được. Không che món.
Gốm mộc hợp món Việt. Nhìn ấm.
Sứ trắng hợp mọi kiểu. Linh hoạt.
Đồ sứ nhẹ và bền. Dùng hằng ngày.
Đồ gốm dày giữ nhiệt tốt hơn. Nặng hơn.
Thuỷ tinh cho món lạnh và tráng miệng. Nhìn mát.
Gỗ cho khay và thớt bày. Không cho món ướt.
Tránh đồ kim loại cho món chua. Phản ứng.
Kiểm xem có dùng được lò vi sóng không. Nếu hay hâm.
Một bộ trắng làm nền cộng vài món gốm mộc là cách phối vừa dễ vừa hợp gần như mọi món. Trắng làm nền.
Khay, giỏ và đồ bày bánh
Khay gỗ lớn để bày kiểu tự kẹp. Món đáng mua nhất.
Thớt gỗ lớn dùng thay khay. Đa dụng hơn.
Giỏ tre đựng bánh. Thoáng và đẹp.
Khăn vải lót giỏ. Giữ ấm.
Hộp bánh mì có nắp. Nếu để trên bàn bếp.
Giá để bánh đứng. Tiết kiệm chỗ.
Khay nhỏ bưng đồ uống. Một chuyến.
Đĩa chia ngăn cho món kèm. Không lẫn.
Chân đế cao tạo tầng. Bàn nhìn có lớp.
Không cần đồ chuyên dụng. Đồ có sẵn dùng được.
Rổ tre lót giấy cũng bày được. Mộc mạc.
Khăn vải làm nền chụp ảnh. Rẻ và hiệu quả.
Ưu tiên món dùng được nhiều việc. Khay gỗ, thớt lớn.
Một khay gỗ lớn và một giỏ tre là hai món làm thay đổi cách bày bàn nhiều nhất mà giá thì rất thấp. Mua hai món đó.
Danh sách tối thiểu
Bốn đĩa hai mươi lăm phân. Bữa chính.
Bốn đĩa hai mươi phân. Món phụ.
Hai đĩa ba mươi phân. Món chung.
Bốn bát ăn cơm. Cơ bản.
Bốn bát tô. Món nước.
Sáu chén chấm nhỏ. Dư hai.
Sáu ly nước. Dư hai.
Một khay gỗ lớn. Bày tự kẹp.
Một giỏ đựng bánh. Kèm khăn lót.
Một thớt gỗ lớn. Bày và cắt.
Kẹp gắp và muôi chung. Vài cái.
Danh sách này cho nhà bốn người. Nhân lên nếu đông hơn.
Mua thêm khi thật sự thiếu. Không mua trước.
Danh sách mười một món này phủ hết bữa hằng ngày lẫn bữa có khách, và nó rẻ hơn một bộ đồ ăn trọn gói. Mua theo danh sách.
Mua dần cho không phí
Mua khi thấy thiếu thật. Không mua theo hứng.
Ghi lại lần nào thiếu gì. Trong sổ.
Mua thứ ghi nhiều lần nhất. Đúng nhu cầu.
Không mua bộ trọn gói. Thừa nhiều món.
Bộ trọn gói có nhiều cỡ không dùng. Chiếm tủ.
Mua lẻ từng cỡ cần. Rẻ hơn dài hạn.
Mua thêm được mẫu cũ thì tốt. Chọn mẫu phổ thông.
Mẫu độc lạ thì vỡ là hết. Cân nhắc.
Mua chỗ bán lẻ từng cái. Chợ đồ gốm.
Đồ cũ chất lượng cũng tốt. Kiểm nứt mẻ.
Không mua đồ chỉ để chụp ảnh. Dùng vài lần.
Đo tủ trước khi mua. Nhiều lần mua về không vừa.
Bỏ đồ mẻ và đồ không dùng. Nhường chỗ.
Mua lẻ từng món theo nhu cầu thật là cách vừa rẻ vừa không chất đầy tủ những thứ không bao giờ dùng. Mua lẻ theo nhu cầu.
Giữ và cất
Xếp chồng có lót giấy hoặc vải. Không xước.
Không chồng quá cao. Dễ đổ.
Đĩa hay dùng để tầm tay. Không phải với.
Đồ dịp lễ cất trên cao. Ít dùng.
Ly úp xuống trên giá. Không bám bụi.
Không úp ly khi còn ướt trong tủ kín. Mùi hôi.
Để ráo hoàn toàn rồi cất. Nguyên tắc.
Rửa đồ ít dùng trước khi dùng lại. Bụi.
Không rửa đồ gốm mộc bằng máy. Nếu không tráng men kỹ.
Lau khô đồ gỗ ngay. Không ngâm.
Quét dầu đồ gỗ định kỳ. Chống nứt.
Bỏ đồ nứt mẻ. Nguy hiểm.
Rà tủ chén mỗi năm. Bỏ thứ không dùng.
Đồ gỗ cần lau khô ngay và quét dầu định kỳ, còn đồ sứ thì gần như không đòi gì ngoài chỗ cất khô ráo. Chăm đồ gỗ kỹ hơn.
Lỗi hay gặp
Mua bộ trọn gói. Thừa nhiều cỡ.
Mua đĩa hoa văn rối. Món chìm.
Mua mẫu độc lạ. Vỡ là hết, không mua bù được.
Không đo tủ trước khi mua. Về không vừa.
Mua đồ chỉ để chụp ảnh. Dùng vài lần.
Cất đồ đẹp không dùng. Phí.
Dùng đồ mẻ. Nguy hiểm và nhìn cũ.
Chồng đĩa không lót. Xước.
Cất ly còn ướt trong tủ kín. Mùi hôi.
Ngâm đồ gỗ trong nước. Nứt.
Không quét dầu thớt gỗ. Nứt và ám mùi.
Dùng đồ kim loại cho món chua. Phản ứng.
Không rà tủ chén nhiều năm. Đầy đồ không dùng.
Vài món đúng cỡ dùng mỗi ngày có giá trị hơn nhiều so với một tủ đầy đồ đẹp chỉ mang ra dịp lễ. Ít mà dùng thường xuyên.