BanhMiChay.comTự làm bánh mì chay và bữa quanh ổ bánh
Dọn bàn và trình bày

Bày bàn ăn hằng ngày cho dễ chịu

Không cần khăn trải bàn đắt tiền, chỉ cần mặt bàn trống và đủ ánh sáng.

Bàn ăn gọn gàng với đĩa, ly và một lọ rau thơm nhỏ

Bữa cơm ngon mà ăn trên cái bàn đầy giấy tờ thì vẫn thấy vội, còn bữa đơn giản trên bàn gọn thì lại thấy đủ.

Phần này không tốn tiền, chỉ tốn vài phút mỗi bữa.

Bố trí tối thiểu

Mặt bàn trống là điều kiện đầu tiên. Quan trọng hơn mọi thứ khác.

Dọn hết đồ không liên quan. Giấy tờ, chìa khoá, điện thoại.

Một đĩa cho mỗi người. Đủ rồi.

Một ly nước cho mỗi người. Luôn có.

Đũa hoặc nĩa đặt bên phải. Theo thói quen.

Khăn giấy ở giữa bàn. Ai cũng với tới.

Món chung ở giữa. Trong tầm tay mọi người.

Chén chấm nhỏ cho từng người. Vệ sinh hơn dùng chung.

Không bày quá nhiều thứ. Rối mắt.

Chừa chỗ để đặt đĩa xuống. Cần khoảng trống.

Ba phút là bày xong. Không lâu.

Giao việc bày bàn cho một người. Thành nếp.

Trẻ nhỏ bày bàn được. Việc vừa sức.

Mặt bàn trống là thứ quyết định cảm giác của bữa ăn nhiều hơn mọi món đồ trang trí, và nó không tốn đồng nào. Dọn trống mặt bàn.

Chén đĩa dùng hằng ngày

Đĩa trắng làm món nổi màu. An toàn nhất.

Đĩa hoa văn rối làm món chìm. Dùng cho dịp khác.

Đĩa rộng vành trông chỉn chu. Chừa viền trống.

Bát sâu cho món nước. Giữ nóng lâu.

Ly thuỷ tinh trong nhìn mát. Thấy màu nước.

Không cần bộ đồng bộ. Miễn hợp nhau.

Chọn ba bốn màu trung tính. Trộn được với nhau.

Đồ gốm mộc hợp món Việt. Nhìn ấm.

Không dùng đồ mẻ. Nguy hiểm và nhìn cũ.

Thay đồ mẻ dần. Không cần thay cả bộ.

Cất đồ đẹp mà không dùng thì phí. Dùng hằng ngày đi.

Đồ đẹp dùng hằng ngày làm bữa thường vui hơn. Đáng.

Vỡ thì thay. Không nên tiếc tới mức không dùng.

Dùng bộ chén đĩa đẹp nhất cho bữa hằng ngày là quyết định nhỏ nhưng nó làm những bữa cơm bình thường dễ chịu hơn hẳn. Dùng đồ đẹp mỗi ngày.

Ánh sáng và không gian

Ánh sáng ấm dễ chịu hơn ánh sáng trắng. Với bàn ăn.

Đèn trắng lạnh làm món nhìn nhợt. Đổi bóng nếu được.

Đèn thả thấp trên bàn thì ấm cúng. Nếu lắp được.

Ăn gần cửa sổ vào ban ngày. Ánh sáng tự nhiên.

Tắt bớt đèn không cần thiết. Tập trung vào bàn.

Không ăn dưới đèn quá chói. Mệt mắt.

Không bật ti vi trong bữa. Mọi người quay đi.

Nhạc nhỏ nếu thích. Không át tiếng nói.

Mở cửa sổ cho thoáng. Nhất là sau khi nấu.

Bật quạt hút trước khi nấu. Nhà không ám mùi.

Ghế đủ và vừa tầm bàn. Ngồi thoải mái.

Không để bàn ăn sát chỗ bừa bộn. Nhìn thấy là khó chịu.

Một lọ rau thơm nhỏ cũng đủ làm bàn có sức sống. Rẻ nhất.

Đổi bóng đèn sang ánh sáng ấm là việc làm một lần nhưng nó đổi cảm giác của mọi bữa ăn sau đó. Đổi ánh sáng.

Giữ bàn ăn không thành chỗ để đồ

Bàn ăn hay thành chỗ chất đồ. Vấn đề phổ biến nhất.

Đặt quy ước không để đồ trên bàn. Cả nhà biết.

Có chỗ khác cho giấy tờ và chìa khoá. Khay nhỏ gần cửa.

Dọn bàn ngay sau mỗi bữa. Không để tích.

Lau bàn sau khi dọn. Sạch thì ít ai để đồ lên.

Để một lọ hoa hoặc lọ rau thơm. Chiếm chỗ theo cách đẹp.

Bàn có thứ đẹp thì ít bị chất đồ. Mẹo hiệu quả.

Không làm việc trên bàn ăn nếu tránh được. Hoặc dọn sau khi xong.

Nếu phải làm việc thì dọn trước bữa. Thành nếp.

Nhắc nhau nhẹ nhàng. Không cằn nhằn.

Dọn cùng nhau thì nhanh. Ba phút.

Bàn gọn thì ai cũng muốn ngồi ăn. Kéo theo nếp ăn cùng nhau.

Bàn bừa thì mọi người bưng đi chỗ khác. Mất bữa chung.

Giữ bàn ăn trống là cách giữ cho cả nhà còn ngồi ăn cùng nhau, nên nó đáng công hơn vẻ ngoài của việc đó. Giữ bàn trống.

Bày cho bữa có khách bất chợt

Không cần bày khác ngày thường nhiều. Chỉ gọn hơn.

Thêm một đĩa và một ly. Là đủ.

Dọn nhanh mặt bàn. Hai phút.

Lau bàn. Một phút.

Thêm một chén chấm riêng. Lịch sự.

Bày thêm một món kèm có sẵn. Đồ chua hoặc hạt.

Không xin lỗi vì bữa đơn giản. Khách ngại.

Mời khách ngồi chỗ thoải mái. Không phải chỗ hẹp.

Rót nước trước tiên. Việc đầu tiên khi khách ngồi.

Không chạy đi mua thêm. Mất chủ nhà.

Chia phần mình ra nếu thiếu. Bình thường.

Khách bất chợt thường không kỳ vọng nhiều. Ngồi cùng là chính.

Trữ sẵn vài thứ cho tình huống này. Đồ chua, hạt, bánh đông.

Khách bất chợt cần được mời ngồi và rót nước hơn là cần một bàn ăn đầy món. Ngồi và rót nước trước.

Nếp ăn trong nhà

Ăn cùng giờ nếu được. Ít nhất một bữa mỗi ngày.

Chờ đủ người rồi mới ăn. Nếu không ai bận.

Mời trước khi ăn. Nếp quen.

Không cầm điện thoại trên bàn. Quy ước chung.

Người lớn làm gương trước. Trẻ theo sau.

Không bật ti vi. Mọi người quay đi.

Nói chuyện nhẹ nhàng. Không tranh luận trong bữa.

Không mắng trẻ trong bữa ăn. Trẻ sợ ăn.

Không bình phẩm món của người nấu. Nhất là chê.

Cảm ơn người nấu. Một câu là đủ.

Ai ăn xong dọn phần mình. Quy ước.

Ngồi thêm vài phút sau khi ăn. Không đứng dậy ngay.

Nếp mỗi nhà một khác. Bàn với nhau rồi chốt.

Nếp ăn trong nhà là thứ được xây bằng vài quy ước nhỏ, và quy ước bỏ điện thoại xuống thường là cái hiệu quả nhất. Bỏ điện thoại xuống.

Lỗi hay gặp

Ăn trên bàn đầy đồ. Bữa nào cũng thấy vội.

Không dọn bàn trước bữa. Lỗi gốc.

Bày quá nhiều thứ. Rối và vướng.

Dùng đèn trắng chói. Món nhìn nhợt.

Bật ti vi trong bữa. Mất bữa chung.

Cầm điện thoại trên bàn. Cùng lý do.

Để bàn ăn thành chỗ để giấy tờ. Rất hay xảy ra.

Cất đồ đẹp không dùng. Phí.

Dùng đồ mẻ. Nhìn cũ và nguy hiểm.

Xin lỗi về bữa đơn giản. Khách ngại.

Mắng trẻ trong bữa. Trẻ sợ bữa ăn.

Chê món trước mặt người nấu. Lần sau họ không muốn nấu.

Đứng dậy ngay khi ăn xong. Mất phần ngồi cùng.

Bày bàn hằng ngày chỉ cần ba phút và một mặt bàn trống, nhưng nó quyết định bữa cơm là một bữa hay chỉ là việc nạp năng lượng. Ba phút là đủ.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918.832.283