Cùng một ổ bánh, cắt ngang thì thành hai khúc, cắt chéo thì thành món ăn — khác biệt nằm ở mặt cắt lộ ra.
Đây là phần rẻ nhất của việc trình bày mà lại đổi nhiều nhất.
Các kiểu cắt
Cắt dọc không đứt thì kẹp được nhiều. Kiểu bánh mì Việt.
Chừa lại một phần sống lưng. Nhân không rơi.
Cắt dọc đứt hẳn thì dễ ăn hơn. Nhưng nhân dễ rơi.
Cắt ngang thành hai khúc. Chia cho hai người.
Cắt chéo bốn lăm độ. Mặt cắt rộng, nhìn đẹp.
Cắt chéo hợp bày đĩa. Thấy được nhân.
Cắt khúc ngắn ba bốn phân. Cho bàn tự kẹp.
Cắt lát dày hai phân. Cho bánh mì gối.
Cắt khối vuông. Chấm súp hoặc trộn salad.
Cắt mỏng rồi nướng. Thành bánh sấy.
Chọn kiểu theo tình huống. Không có kiểu đúng duy nhất.
Bàn đông người thì cắt khúc ngắn. Dễ lấy.
Bày đĩa thì cắt chéo. Đẹp nhất.
Cắt chéo là kiểu làm ổ bánh trông ngon nhất vì mặt cắt rộng khoe được toàn bộ phần nhân. Cắt chéo khi bày đĩa.
Dao và cách cắt
Dao răng cưa là đúng loại. Vỏ giòn ruột mềm.
Dao thẳng ép bẹp ổ bánh. Ruột nát.
Lưỡi dao dài hơn ổ bánh. Cắt một nhát.
Kéo dao tới lui nhẹ nhàng. Không đè xuống.
Đè mạnh thì bánh bẹp. Lỗi phổ biến nhất.
Để bánh nguội bớt rồi cắt. Nóng quá thì nát.
Bánh mới nướng chờ năm phút. Ruột ổn định.
Cắt trên thớt phẳng. Không cắt trên tay.
Giữ ổ bánh nhẹ tay. Không bóp.
Lau dao giữa các lát. Nếu bánh có nhân.
Dao sắc thì mặt cắt gọn. Mài định kỳ.
Không cắt bánh đông đá. Rã bớt trước.
Bánh sandwich cắt bỏ viền nếu muốn. Tuỳ món.
Dao răng cưa và động tác kéo nhẹ là toàn bộ kỹ thuật cắt bánh, còn đè mạnh thì dao nào cũng làm bẹp. Kéo nhẹ, đừng đè.
Xếp đĩa
Đĩa rộng hơn phần thức ăn. Chừa viền trống.
Viền trống làm món nổi bật. Nguyên tắc cơ bản.
Không chất đống. Xếp có khoảng cách.
Xếp mặt cắt hướng lên. Thấy nhân.
Hoặc hướng ra phía người nhìn. Cùng tác dụng.
Xếp chếch chồng nhau một phần. Tạo nhịp.
Số lẻ nhìn tự nhiên hơn. Ba hoặc năm miếng.
Đặt phần cao ở giữa. Bố cục cân.
Món kèm đặt bên cạnh. Không đè lên bánh.
Chén chấm đặt góc đĩa. Hoặc riêng.
Không rưới sốt lên bánh giòn. Để riêng.
Lau mép đĩa trước khi bưng. Chi tiết quan trọng.
Đĩa trắng làm món nổi màu. An toàn nhất.
Chừa viền trống và lau sạch mép đĩa là hai việc không tốn gì nhưng làm đĩa thức ăn trông chỉn chu hẳn. Chừa viền và lau mép.
Giữ nhân không rơi
Không kẹp quá đầy. Nguyên nhân số một.
Xếp lớp theo thứ tự. Phết dưới cùng.
Phết cả hai mặt bánh. Kết dính.
Rau lá đặt sát bánh. Làm lớp chắn.
Lớp ướt đặt ở giữa. Không sát bánh.
Đồ chua vắt ráo kỹ. Không làm ướt.
Miếng to đặt dưới. Miếng nhỏ lên trên.
Ấn nhẹ ổ bánh sau khi kẹp. Các lớp bám vào nhau.
Không ấn mạnh. Nhân trào ra.
Gói giấy nến nửa dưới. Cầm gọn.
Xiên tăm dài nếu ổ cao. Giữ hình.
Cắt đôi thì cắt dứt khoát. Không kéo lê.
Để mặt cắt hướng lên khi bày. Nhân không tụt.
Kẹp vừa phải và ấn nhẹ một cái là đủ để nhân không rơi, còn kẹp quá đầy thì không cách nào giữ được. Đừng kẹp quá đầy.
Bày cho ảnh và cho mạng xã hội
Ánh sáng tự nhiên là tốt nhất. Gần cửa sổ.
Tránh đèn vàng trong nhà. Món ngả màu.
Không dùng đèn flash. Bẹt và gắt.
Chụp nghiêng bốn lăm độ. Thấy cả mặt cắt và chiều cao.
Chụp từ trên xuống cho bàn nhiều món. Bố cục phẳng.
Nền gỗ hoặc vải trơn. Không rối mắt.
Thêm một nhánh rau thơm. Điểm xanh.
Lau vụn bánh trên bàn. Nhìn sạch.
Chụp ngay khi vừa làm xong. Rau chưa héo.
Không chỉnh màu quá tay. Món thành giả.
Chụp vài kiểu rồi chọn. Nhanh thôi.
Ăn ngay sau khi chụp. Đừng để nguội vì chụp.
Không để việc chụp làm hỏng bữa. Ưu tiên bữa ăn.
Ánh sáng cửa sổ và một nhánh rau thơm giải quyết được chín phần mười chuyện chụp món, còn lại là chuyện chỉnh sửa. Ánh sáng là chính.
Bày cho từng tình huống
Bữa gia đình thì bày mộc. Không cần cầu kỳ.
Cắt khúc để giỏ có khăn. Ai lấy nấy.
Đãi khách thì cắt chéo bày đĩa. Chỉn chu hơn.
Bàn tự kẹp thì cắt khúc ngắn. Dễ thao tác.
Hộp cơm thì gói giấy nến. Không bày.
Mang đi thì để nguyên ổ. Cắt tại chỗ.
Tiệc đứng thì cắt miếng nhỏ. Cầm một tay.
Trẻ nhỏ thì cắt miếng vừa tay. Bỏ vỏ cứng nếu cần.
Người lớn tuổi thì cắt mỏng hơn. Dễ nhai.
Bữa sáng vội thì không cần bày. Đĩa là đủ.
Bữa chậm thì bày kỹ hơn. Có thời gian.
Không bày cầu kỳ cho bữa hằng ngày. Không giữ được.
Bày vừa mức mình duy trì được. Nguyên tắc.
Mức bày nên khớp với tình huống, và bày cầu kỳ cho bữa hằng ngày là thứ không ai duy trì được lâu. Bày vừa mức.
Lỗi hay gặp
Dùng dao thẳng cắt bánh vỏ giòn. Bẹp ruột.
Đè mạnh khi cắt. Nát.
Cắt bánh khi còn nóng rẫy. Ruột dính dao.
Cắt trên tay. Nguy hiểm và không đều.
Kẹp quá đầy. Nhân rơi.
Đặt lớp ướt sát bánh. Bánh ướt.
Không vắt ráo đồ chua. Cùng lý do.
Ấn mạnh sau khi kẹp. Nhân trào.
Chất đống lên đĩa. Nhìn rối.
Không lau mép đĩa. Mất chỉn chu.
Rưới sốt lên bánh giòn. Nhũn.
Chụp ảnh lâu rồi mới ăn. Món nguội.
Bày cầu kỳ cho bữa hằng ngày. Không duy trì được.
Cắt đúng dao và kẹp vừa phải là hai việc quyết định ổ bánh nhìn ra món hay nhìn thành mớ, và cả hai đều miễn phí. Dao đúng, kẹp vừa.