BanhMiChay.comTự làm bánh mì chay và bữa quanh ổ bánh
Bữa tối và ăn khuya

Bữa tối cuối tuần ngồi lâu với bạn

Bàn bánh mì tự kẹp là cách đãi bạn ít công nhất mà vui nhất.

Bàn tối bày bánh mì cắt khúc và nhiều chén nhân

Mời bạn tới ăn tối thường bị hình dung thành nấu ba bốn món rồi đứng bếp cả buổi, và kết quả là ít ai mời.

Bàn bánh mì tự kẹp phá được cái vòng đó: bày một lần rồi ngồi cùng khách.

Vì sao chọn bánh mì

Không phải đứng bếp trong bữa. Lợi thế lớn nhất.

Bày một lần rồi ngồi. Chủ nhà cũng được ăn.

Ai thích gì tự kẹp. Không lo khẩu vị.

Người kiêng tự tránh thứ mình kiêng. Không cần nấu riêng.

Không cần kỹ năng nấu cao. Chủ yếu là bày.

Chi phí thấp hơn nấu nhiều món. Nguyên liệu đơn giản.

Chuẩn bị trước được gần hết. Chỉ nướng bánh tại chỗ.

Dọn nhẹ hơn nhiều. Ít nồi niêu.

Bàn nhìn đầy đặn. Nhiều chén nhỏ.

Ăn kéo dài tự nhiên. Vừa ăn vừa nói chuyện.

Hợp nhóm bốn tới tám người. Cỡ vừa.

Đông hơn thì chia hai bàn. Hoặc hai khay.

Hợp cả mùa nóng lẫn mùa lạnh. Thêm món nước nếu lạnh.

Bàn bánh mì tự kẹp cho phép chủ nhà ngồi cùng khách suốt bữa, và đó là lý do nó đáng chọn hơn mâm cơm nhiều món. Chọn để được ngồi cùng.

Bày bao nhiêu món

Ba loại nhân đạm. Đậu hũ, nấm, đậu nghiền.

Hai loại phết. Một béo một đậm.

Một đĩa rau tươi. Nhiều loại xếp chung.

Một chén đồ chua. Vắt ráo.

Một chén đồ giòn. Hạt rang hoặc tàu hũ ky chiên.

Một món nóng. Súp hoặc rau củ nướng.

Một món ngọt nhỏ. Khép bữa.

Tổng bảy tám chén. Nhìn rất đầy.

Nhưng mỗi chén ít. Không tốn nhiều.

Nhiều chén nhỏ hơn ít đĩa lớn. Nhìn phong phú hơn.

Không cần món nào cầu kỳ. Đơn giản mà nhiều loại.

Ba trong số đó mua sẵn cũng được. Đồ chua, hạt rang, bánh.

Ghi danh sách trước. Không thiếu món.

Bảy tám chén nhỏ trông đầy đặn hơn nhiều so với ba đĩa lớn, mà tổng lượng thức ăn thì như nhau. Chia nhỏ ra nhiều chén.

Tính lượng cho nhóm bạn

Một ổ rưỡi bánh một người. Bữa tối, ăn lâu.

Sáu người thì chín tới mười ổ. Dư một hai.

Nhân đạm tính tám mươi gram một người. Tổng các loại.

Rau tươi một trăm gram một người. Trông nhiều là được.

Đồ chua ba mươi gram một người. Rất ít là đủ.

Phết ba mươi gram một người. Mỗi loại.

Món nóng một trăm năm mươi ml. Nếu có súp.

Món ngọt một phần nhỏ. Trái cây cũng được.

Đồ uống sáu trăm ml một người. Bữa hai tiếng.

Nửa trong đó là nước lọc. Lựa chọn an toàn.

Bánh dư dễ xử lý nhất. Sấy hoặc đông.

Rau tươi dư khó xử lý nhất. Tính vừa.

Ghi lại lượng thật đã hết. Lần sau chính xác.

Dư bánh và thiếu rau thì dễ chịu hơn ngược lại, nên khi phân vân thì tính dư phía bánh. Dư bánh, vừa rau.

Chuẩn bị theo lịch ngược

Hai ngày trước làm đồ chua. Ngấm hơn.

Một ngày trước làm phết. Hummus, pate.

Một ngày trước rang hạt. Trữ hũ.

Một ngày trước nấu món nóng. Hâm lại ngon hơn.

Sáng hôm đó rửa rau và để ráo. Không cắt vội.

Sáng hôm đó ướp đậu hũ. Chiều áp chảo.

Một tiếng trước cắt rau. Giữ tươi.

Ba mươi phút trước bày chén. Trừ thứ dễ khô.

Mười lăm phút trước áp chảo đậu hũ. Nóng.

Năm phút trước nướng bánh. Giòn nhất.

Bày bánh ra khi khách đã tới. Không sớm hơn.

Viết lịch này ra giấy. Bám theo.

Nhờ khách tới sớm phụ bày. Tự nhiên hơn.

Viết lịch ngược từ giờ khách tới là việc mười phút nhưng nó quyết định bữa có chạy trơn hay không. Viết lịch ngược.

Giữ không khí bữa

Bày bàn xong rồi mới mời khách ngồi. Không để khách chờ nhìn bếp.

Ngồi cùng bàn suốt bữa. Không chạy bếp.

Để mọi người tự lấy. Không gắp cho từng người.

Tiếp thêm khi chén vơi. Chuẩn bị sẵn phần bổ sung.

Nhạc nhỏ làm nền. Không át tiếng nói.

Ánh sáng vừa phải. Không chói.

Không bật ti vi. Mọi người quay sang màn hình.

Để điện thoại xuống. Chủ nhà làm gương.

Không hỏi liên tục có ngon không. Để khách thoải mái.

Không xin lỗi về món ăn. Làm khách ngại.

Ngồi lâu là mục đích. Không vội dọn.

Pha thêm trà giữa bữa. Kéo dài tự nhiên.

Bày món ngọt sau khi dọn bớt. Tạo nhịp mới.

Không khí bữa phụ thuộc vào chủ nhà có ngồi xuống hay không, nhiều hơn là vào món ăn trên bàn. Ngồi xuống cùng khách.

Dọn sau bữa

Không dọn khi khách còn đang ăn. Khách thấy nên về.

Thu dần chén đã hết. Nhẹ nhàng.

Để khách phụ nếu họ muốn. Tự nhiên hơn từ chối.

Cất phết vào tủ ngay. Nhóm dễ hỏng.

Rau đã ra đĩa thì dùng trong ngày. Không cất lại hũ.

Bánh thừa cắt lát cấp đông. Hoặc sấy.

Món nóng thừa cho vào hộp. Ăn hôm sau.

Chuẩn bị hộp cho khách mang về. Nếu thừa nhiều.

Ngâm chén đĩa ngay. Đỡ cọ.

Không cố rửa hết trong đêm. Ngâm rồi sáng rửa.

Lau bàn trước khi đi ngủ. Sáng dễ chịu.

Ghi lại món nào hết sạch. Lần sau làm lại.

Ghi lại lượng và số người. Lần sau tính đúng.

Ngâm chén rồi để sáng rửa là lựa chọn hợp lý hơn cố rửa hết lúc mười một giờ đêm. Ngâm và để sáng.

Lỗi hay gặp

Nấu nhiều món rồi đứng bếp cả buổi. Chủ nhà không được ngồi.

Bày bánh ra quá sớm. Mềm khi ăn.

Cắt rau từ sáng. Héo.

Không tính dư bánh. Thiếu giữa chừng.

Không hỏi khách kiêng gì. Có người ngồi nhìn.

Không ghi nhãn món có đậu phộng. Nguy hiểm với người dị ứng.

Bày hết đồ ra một lúc. Cuối bữa nhìn tàn.

Dọn khi khách còn ăn. Khách thấy nên về.

Bật ti vi. Mọi người ngừng nói chuyện.

Xin lỗi về món ăn. Khách ngại.

Không chuẩn bị hộp cho khách mang về. Thừa đổ đi.

Cố rửa hết trong đêm. Mệt và cáu.

Không ghi lại gì. Lần sau đoán lại từ đầu.

Bữa tối đãi bạn thành công khi chủ nhà ngồi được cả bữa, và bàn bánh mì tự kẹp là cách dễ nhất để đạt điều đó. Chọn cách cho mình được ngồi.

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0918.832.283